Ở trong miền Nam, thì Vũ Bằng thật nhớ sao thứ xúc cảm đặc biệt chỉ cơn mưa sậm sụt của thu Hà Nội đem lại. Hơn hết thảy, vào dịp mà người ta nồng ấm ở bên người thương, gia đình mình -Đại lễ Vu Lan Bồn thì tác giả chỉ đành hồi tưởng về vợ mình và trút nỗi đau, sầu này vào dòng văn. Thu đã nhớ nhung da diết, thì đông về còn làm lòng ông buồn hơn.
Thương nhớ Mười Hai - Vũ Bằng Trong số trước tác của Vũ Bằng, Thương nhớ Mười Hai là tác phẩm tiêu biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông. Nội dung sách ông viết về hình ảnh người vợ tên Quỳ bên kia vỹ tuyến. Ông khởi sự viết từ tháng Giêng 1960, ròng rã mười một năm mới hoàn thành tác phẩm dày khoảng 250 trang vào năm 1971.
Trong số tác phẩm của Vũ Bằng, Thương Nhớ Mười Hai là tác phẩm đặc sắc nhất, tiêu biểu cho tình cảm và phong cách viết của ông. Tác phẩm được đặt bút từ Tháng Giêng 1960 và mất mười một năm mới hoàn thành vào năm 1971 với độ dày 250 trang. "Mười hai" ở đây là mười hai tháng trong năm mà t…
II. Phân tích thi pháp ngôn từ trong "thương nhớ mười hai" của Vũ Bằng 3 1. Cách dùng từ ngữ trong "thương nhớ mười hai của Vũ Bằng" 3 2. Từ ngữ giàu hình ảnh và chứa đựng nhiều cảm xúc thông qua hệ thống các từ loại. 3 3.
Về tác giả Vũ Bằng và Thương Nhớ Mười Hai. Tác giả của Thương Nhớ Mười Hai - Vũ Bằng sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, trong một gia đình Nho học có mẹ là một chủ tiệm bán sách trên phố Hàng Gai. Tác giả này bộc lộ năng khiếu viết văn, làm báo khi tuổi còn rất
Cập nhập tin tức Thương nhớ mười hai Phong vị tết Hà Nội xưa trong văn Vũ Bằng và Thạch Lam Nhiều nét thanh lịch của Hà Nội hào hoa xưa có lẽ giờ đã là "vang bóng một thời", nhưng văn chương thực như một món quà, đã lưu giữ lại được những điều đã dần tàn
Tác phẩm ký Thương nhớ mười hai đặc sắc của ông có thể xếp ngang hàng với những tiểu thuyết,tập truyện đầu bảng của văn chương Và đấy cũng chính là trạng thái tâm lý con người thật của Vũ Bằng khi ấy. Hành xử như thế, Nam Cao vẫn giữ được tư cách công
3ldFG4B. “Những ai đương ở phương trời, đọc Thương nhớ mười hai, ai mà không có một cái quê để nhớ" Tô Hoài.Không ngoa khi nói rằng Vũ Bằng 1913 – 1984 là nhà văn có số phận cuộc đời éo le nhất trong các nhà văn Việt Nam hiện đại. Hơn 30 năm sống trong Sài Gòn, dưới vỏ bọc một nhà văn “quay lưng lại với cách mạng” để hoạt động trong mạng lưới tình báo, Vũ Bằng đã phải chịu nhiều điều tiếng và sự lạnh nhạt của bạn văn lẫn người đời. Vì nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đứt đoạn đường dây liên lạc, mãi đến sau này, ông mới được công nhận là người hoạt động cách mạng và được truy tặng huân chương nhà nước. Năm 2000, khi được Tổng cục II - Bộ Quốc phòng xác nhận tư cách công dân, công trạng thì Vũ Bằng mới “từ bên trời thương nhớ thênh thang trở về và đường hoàng gia nhập vào nền văn học Việt Nam hiện đại”. Vũ Bằng nhớ đến từng chi tiết thiên nhiên miền Bắc qua đặc trưng của từng mùa. Mùa xuân tháng giêng của Hà Nội “có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng”… Có lẽ nỗi nhớ da diết đã làm nên mạch sống hồi sinh trong con người Vũ Bằng, hoá thân thành cỏ cây để được tắm mình trong mùa xuân, để “nhựa sống trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai”. Đặc biệt hơn nữa khi ông thấy vẻ đẹp mùa xuân sau ngày rằm như vẻ đẹp tâm hồn, cái duyên thầm của người con gái “đẹp không phải vì quần áo, vì son phấn mà chính vì cái chất đẹp ở trong người tiết ra”. Đó mới là cái đẹp “thành thực, hồn nhiên mộc mạc” nhất. Đẹp như thế mới gọi là đẹp, yêu như thế mới gọi là yêu. Rồi đến mùa hạ, mùa của những cái nắng chói chang len lỏi qua từng kẽ lá, tiếng ve bắt đầu râm ran. Tháng tư, đầu mùa hạ “Hoa gạo bắt đầu nở đỏ chói ở ven hồ Hoàn Kiếm, rơi xuống nước xanh, rụng xuống cỏ xanh…”. Biết bao kỷ niệm chợt ùa về trong lòng người lữ khách phương xa bên kia vĩ tuyến về mùa hạ yêu thương một thời để nhớ. “Biết bao kỉ niệm xanh một màu núi tím, nước xanh […] Nước thì xanh, núi thì tím, hoa trên sườn núi đỏ màu cánh sen mà các cô nàng thoát y lại trắng như ngó sen, tóc xõa xuống lưng đen như mực tàu”. Xuân, hạ rồi đến thu. Mùa thu của Vũ Bằng thật mộng, thật thơ “Mộng từ ngọn gió, cánh hoa mộng đi, mộng từ tiếng nhạn về, én đi mà mộng lại, mộng từ bông sen tàn tạ trên đầm mà mộng lên, mộng từ sắc ố quan hà mà mộng xuống”. Mùa thu ấy có chút gì đó đượm buồn, như là vấn vương, như là sầu nhớ “Cái buồn mùa thu lê thê, cái buồn mùa thu tê mê, cái buồn mùa thu não nề”, buồn thật nhưng trăng thu thì lại rất đẹp “Không có mùa nào trăng lại đẹp và sáng như trăng thu”, “Trăng dãi trên đường thơm thơm, trăng cài trên tóc ngoan ngoan của những khóm tre xào xạc, trăng thơm môi mời đón của dòng chảy êm đềm…”. Cuối thu, lại càng buồn hơn “Nhìn lên trời, người ta trông thấy trăng liềm nhô ra khỏi mộng để cho ánh ngà vắt sữa xuống ngàn cây…”. Mùa đông đến, sự giá lạnh tràn về lại mọi nẻo. Đầu đông, bắt đầu bằng những cơn gió bấc mưa phùn, trời bắt đầu rét. Cuối đông cũng là lúc tết sắp về, lúc này lòng người trở nên náo nức hơn, phố xá rộn ràng hơn trong những phiên chợ tết…“Yêu ngọn cỏ gió đùa, mây trôi lãng đãng, ngọn núi đồi sim, nhựa cây mạch đất…”, thậm chí yêu luôn cả “những giọt mưa bé tỉ ti đọng lại trên nhung mướt làm cho người đẹp óng a óng ánh như thiên thần trong mộng”.Nếu vẻ đẹp thiên nhiên trong tác phẩm của Nguyễn Tuân được thể hiện từ một cái tôi độc đáo luôn thèm sống và thể hiện mình; Hoàng Phủ Ngọc Tường khám phá, phát hiện thiên nhiên từ những nét văn hóa truyền thống của dân tộc cùng những triết lí sâu sắc về con người; thì với Vũ Bằng, ông cảm nhận thiên nhiên bằng chính tình yêu và nỗi nhớ dành cho quê hương xứ sở hay cụ thể là nỗi nhớ dành cho Bắc Việt. Dòng hồi ức tràn trề ấy của tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ của xứ Bắc, của vùng đất thủ đô nghìn năm văn hiến. Vũ Bằng không chỉ bày tỏ tình yêu thiên nhiên xứ sở, mà còn thể hiện một tấm lòng nhân hậu, cảm thương cho số phận bất hạnh qua từng trang viết của mình. Khi viết về tháng bảy, ông đặc biệt chú ý đến vong hồn cô đơn, vô định “Ấy là những người chết mà không siêu thoát, chết mà vẫn nuối tiếc cái gì, chết mà không nhắm mắt, còn ân hận”, “…ấy là những kẻ chìm sông lạc suối, những người gieo giếng thắt dây; ấy là những đứa trẻ lỗi giờ sinh phải lìa mẹ cha từ tấm bé, không có ai bồng bế”. ọc lên những dòng văn này, ta thấy một cảm giác hơi rờn rợn, thắt lòng. Vậy mới thấy, một đời người có được bao nhiêu thời gian để tranh đua, để hưởng thụ niềm vui, để bon chen danh lợi, khi mất rồi thì như gió bụi, trở thành những linh hồn cô đơn, lạnh lẽo.“Công danh, phú quý, sắc đẹp, ngai vàng, bao nhiêu trí tuệ, mưu cơ, rút cục lại chỉ còn là những oan hồn đi vất vưởng đó đây, chờ lúc lặn mặt trời thì kéo ra để ăn xin một nắm cơm, bát cháo, la cà các đền chùa miếu nghe kinh và suy nghĩ về chữ “giai không vạn cảnh”. Từ số phận của những linh hồn ấy, Vũ Bằng nghĩ đến nỗi đau chia cắt của chính bản thân mình“Đã lâu lắm, chúng mình không được tin tức của nhau Quỳ nhỉ. Chiến tranh cắt đứt ân tình của hai ta thôi đành lấy câu vận mệnh để khuây dần thương nhớ vậy”. Đó là nỗi buồn của một tâm tư u uất lạc loài, sống trong không gian xa lạ. Hoàn cảnh đất nước Bắc Nam phân cách khiến bao người phải rời bỏ quê hương thì làm sao không tránh khỏi nỗi buồn loạn lạc ấy “Ai không vui hương lửa, ai ôm trong lòng vạn lí tình, ai tiễn người đi mãi mãi không về, ai nhìn khói sóng mà nghĩ đến người bạt ngàn mây nước, ai nhớ ai cùng xây mộng ước nhưng vì trời chẳng chiều người mà phải gảy khúc đàn cho kẻ khác nghe, vào những ngày mưa Ngâu như thế hỏi có buồn không, hỏi có sầu không?”. Tháng bảy có một ngày để Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau – mùng bảy tháng bảy, còn tác giả thì bao năm xa quê hương, xa người vợ yêu thương mà không được gặp thì hỏi sao không buồn, hỏi sao không sầu? Mở đầu cuốn Thương nhớ mười hai, ông có viết “Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn Nguyễn Thị Quỳ. Thành mến tặng quyển sách này để thay mấy lời ai điếu”. Thật hiếm hoi có người đàn ông xem vợ như người tình trong suốt cuộc đời. Trong sáng tác của mình, không ít lần ông kể lại những kỉ niệm bên cạnh người vợ bé nhỏ, bao dòng văn hồi cố lại giai đoạn hạnh phúc cũng như đau khổ của cuộc đời, ông vẫn luôn trăn trở một điều “Em yêu ơi, sống là tin tưởng và chờ đợi nhưng biết mái tóc người ta còn xanh mãi để đợi được hay không”. Người vợ mến thương ấy của Vũ Bằng cũng là hình ảnh của người phụ nữ Bắc bộ đảm đang, dịu dàng, ý nhị và tinh tế “Ấy đấy, thương người đàn bà Bắc như thế đấy. Sạch cứ như lau như ly, cẩn thận từng ly từng tí. Và càng thương hơn nữa là khi ta thấy người đàn bà chậm rãi vuốt ve từng cái tà áo, lồng nhỏ nhẹ từng cái khuyết vào cái khuy rồi xếp vuông vức áo nọ lên quần kia, như thể sợ động mạnh thì quần áo sẽ không còn vẹn tuyết trinh, vì nhầu nếp lụa”. Ở với nhau cho đến nửa cuộc đời rồi mỗi người một giới tuyến trong Nam ngoài Bắc. Người vợ ấy dù một năm, mười năm hay nhiều hơn thế nữa vẫn là người ông yêu quý nhất, là người khiến ông phải thốt lên rằng “Yêu sao yêu quá thế này! Nhớ sao nhớ quá thế này!”. Dù vô tình hay hữu ý, người vợ đã xuất hiện như một nhân vật trữ tình không thể thiếu trong những trang văn gấm hoa, rung động lòng người. Yêu thương không cần là thơ có vần, có nhịp nhưng nó khiến cho áng văn xuôi hóa thơ ca. Nỗi nhớ nhung người mình yêu thương ở nơi phương xa ấy, dường như cũng tương đồng với những dòng lãng mạn của Nguyễn BínhSao đặc trời cao sáng suốt đêmSao đêm chung sáng chẳng chia miềnTrời còn có bữa sao quên mọcTôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em...Đêm sao sáng – Nguyễn Bính Khi hay tin người vợ ân tình phương xa ấy lìa trần, trái tim người chồng càng đau thắt lại. Xa cách lâu đến vậy, vợ chồng con cái chưa được sum họp gặp gỡ thì nay người vợ đã đi thật xa. Xa hơn cái khoảng cách Bắc Nam hai bên vĩ tuyến rất nhiều lần. Xót xa vô ngần, người chồng khóc thương vợ, khóc cho chính mình, cho nỗi đau chia lìa không bao giờ vợ chồng đoàn viên “Tỉnh mộng rồi, người chồng ấy nằm khóc một mình”. “Khóc thì yếu thật, nhưng anh ta khóc, khóc âm thầm – rồi khóc nức nở, khóc thảm thiết như chưa khóc thế bao giờ”. Đúng như Tô Hoài nhận xét "Vũ Bằng lạc lõng ở Sài Gòn quanh năm chói chang nắng nhớ thương bốn mùa Hà Nội", bao nhiêu trang viết của Vũ Bằng như thấm nhuộm mùi hương của từng cành cây ngọn cỏ, như phủ đầy vết bụi đường của từng dấu chân góc phố mỗi tháng, mỗi mùa. Tâm trạng ngày Nam đêm Bắc của Vũ Bằng, tất cả cảm xúc của ông gửi gắm đủ để người đọc thấy rằng ông đã yêu quê hương Bắc Việt đến thế nào; mến cảnh, mến người phương ấy biết là bao. Được đánh giá là một tác phẩm kí đặc sắc, Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng xứng đáng là ví dụ điển hình cho đặc trưng kết hợp linh hoạt các phương thức tự sự, trữ tình với những thao tác tư duy khoa học của loại hình kí văn học. Bằng câu chữ chọn lọc, chi tiết cực kỳ đắt, khai thác tối đa văn hóa, cảnh sắc theo mùa rất riêng ở miền Bắc, Thương nhớ mười hai là một bức tranh đẹp về mười hai tháng, về tình yêu và nỗi nhớ. Nỗi nhớ và tình yêu ấy trăm lần vạn lần dẫu đẹp đến mấy vẫn mang màu xót xa và dang dở. Bạn đọc sẽ ấn tượng về một tác phẩm đã khơi dậy tình yêu đối với những người, những cảnh vật thân thiết từng gắn bó với mỗi chúng ta, nỗi nhớ thương nơi chôn rau cắt rốn trong lòng người xa xứ qua một hồn văn nồng nàn, đắm đuối. “Những ai đương ở phương trời, đọc Thương nhớ mười hai, ai mà không có một cái quê để nhớ" Tô Hoài. Nỗi lòng da diết và khắc khoải nhớ quê của người xa xứ tựa thanh gỗ mục, bề ngoài đẹp đẽ mà bên trong đã rệu nát, chỉ cần một cái chạm vào cũng đủ làm cho nó vỡ tan... 25
Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng là một Việt Nam Danh Tác, được ông chắp bút từ tháng Giêng năm 1960 cho đến năm 1971 mới hoàn thành. Nói về Thương Nhớ Muời Hai là nói về 12 tháng trong năm của Hà Nội, có cảnh vật, ẩm thực, phong tục sinh hoạt của người Bắc Việt. Đó là tình yêu, nỗi nhớ của tác giả dành cho quê hương khi xa cách và thấp thoáng trong đó luôn là hình ảnh một người vợ dịu hiền… Thương Nhớ Mười Hai là góp nhặt nhiều kí ức, tình yêu về đất Bắc của Vũ Bằng khi xa quê hương nhiều năm, có lẽ vào Nam sinh sống không làm ông quên đi Hà Nội mà chỉ làm những điều đó trở nên sâu đậm hơn. Đứng trước một ngày nắng oi ả của Sài Gòn lại thèm cái se lạnh của gió Bấc ngoài Hà Nội, ăn trái cây miền Nam mà lại cứ nghe mùi vị của mận Thất khê, nhãn Hưng Yên,…Dù không nói ra nhưng những gì Vũ Bằng viết đều thấy một niềm tự hào dành cho quê hương, đất nước và một tình yêu da diết cho một Hà Nội trong ký ức đẹp đến nao lòng…. Bốn Mươi Năm “Nói Láo” – Một cuốn hồi ký phản đề của Vũ Bằng Có một Hà Nội “thơ” đến vậy…. Mỗi tháng trong năm Hà Nội lại khoác trên mình một màu áo khác nhau, mười hai tháng mang mười hai màu áo khác nhau. Tháng Giêng “nghe thấy rạo rực nhựa sống trong cành mai, gốc đào, chồi mận” cùng những cơn mưa rả rích, gió lành lạnh ngày xuân. Những ngày bầu trời mát mẻ, “trong vắt như lọc qua một tấm vải màu xanh” đó là những ngày tháng Năm. Sang những ngày tháng Tám trời lại “buồn se sắt, đẹp não nùng” làm sao mà không nhớ hình ảnh những chiếc lá vàng chỉ chờ một cơn gió nhẹ lay rụng xuống hai bên đường đi, tháng Mười gió bấc, mưa phùn mà chỉ ở Hà Nội những ngày đó mới cảm nhận hết được không khí ấy. Từng câu chữ đều len lỏi vào đó những cảnh vật thiên nhiên rất riêng của Hà Nội. Ví đất trời Hà Nội như một cô gái ẩm ương, thất thường nhưng vẫn đáng yêu thật là đúng! Tất cả đều được Vũ Bằng ghi lại bằng ngôn từ chân thật, phong phú của mình. Nhắc đến Bắc Việt thì không thể không nhắc đến vô vàn những thức quà ngon, những thú vui ẩm thực. Đơn giản là tháng Ba lượm mấy quả bàng quế, bàng đực ăn mà thích mê cái mùi thơm thơm, vị ngọt nhiều khi còn hơn cả cam hay táo. Đọc đến đây cả tuổi thơ lại ùa về len lỏi trong mỗi kí ức. Dù bây giờ ở đâu cũng có đủ loại trái cây lại còn quanh năm nhưng cùng không bằng những loại trái cây theo mùa ngon nức tiếng như vải Cầu Họ, nhãn thì có nhãn Hưng Yên, mận thì có mận Thất Khê, na thì có na Láng, na Phủ Lý từng mùa ở ngoài Bắc Việt được. Còn món rượu nếp thơm ngon rất riêng để làm ra cũng là quá trình kì công của những bà nội trợ, thu về lại có thức quà ngày thu món chuối chín vàng ăn kèm với cốm non xanh dẻo thơm. Một trong những món quà mà đất trời dành cho nơi đây chính là ẩm thực, từ bao giờ nhắc đến từ ăn không còn là để no mà là để cảm nhận sự tinh túy trong từng thức quà. Phong tục tập quán vẫn còn đây…. Thời gian trôi qua là lớp bụi phủ đi những thứ xưa cũ nhưng những phong tục tập quán tốt đẹp từ đời ông cha ta để lại thì nay vẫn vẹn nguyên, nhất là trong những gia đình Bắc Việt. Vũ Bằng đã minh chứng điều ấy qua việc miêu tả không khí ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta. Nào là kiêng không quét nhà vào những ngày Tết vì sợ đuổi đi mất thần Tài, kiêng không làm vỡ chén, ly,… đọc đến đây thấy sẽ thấy gần gũi, lòng lại nôn nao Tết về…. Và người vợ thân thương Không ai có thể hiểu hết tình yêu mà bà Qùy dành cho chồng mình lớn thế nào đến mức có thể đưa Vũ Bằng ra khỏi những cám dỗ cuộc đời, vực lại đời ông. Ngay cả đến lúc sắp mất cũng lo không biết chồng ở miền Nam sống thế nào… Và cũng không biết Vũ Bằng thương “ người bạn chiếu chăn ” nhiều bao nhiêu để mà có thể viết ra những lời tình đến vậy, chỉ biết mỗi câu chuyện viết ra đều nhớ về bà Qùy, nhớ những món ăn bà nấu chan chứa tình yêu thương, nhớ những đêm hai vợ chồng cùng dắt nhau đi tản bộ, nhớ chuyện bà kể về sự tích lễ Vu Lan,… tất cả đều ẩn trong đó là bóng hình một người vợ dịu dàng, đảm đang, luôn chăm lo cho chồng con. Vài nét về tác giả Vũ Bằng sinh tại Hà Nội, là cây bút tài ba, hoạt động sôi nổi trong sự nghiệp văn chương báo chí bấy giờ. Năm 1954, Vũ Bằng vào hoạt động trong miền Nam để lại người vợ bà Nguyễn Thị Qùy và con trai ở Hà Nội. Từ nơi kháng chiến miền Nam xa xôi ông luôn nhớ về một Hà nội với thiên nhiên thơ mộng, con người Bắc Việt giản dị và thương người bạn chiếu chăn của mình qua ngòi bút chân thật, ngôn từ phong phú. Đọc mà thốt lên “ sao tài thế, sao tình đến thế ”. Thế nên nhà văn Triệu Xuân mới ngợi ca “Bởi viết về Hà Nội, viết về đất nước quê hương, không ai có thể hơn Vũ Bằng. Bởi Vũ Bằng yêu Hà Nội, yêu đất nước quê hương khi mà ông đang sống ở Sài Gòn, cách Hà Nội chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi ngàn trùng. Nỗi nhớ niềm yêu ấy là tuyệt vọng! Hơn thế nữa, bà Nguyễn Thị Qùy, vợ hiền của ông, người đã góp phần quyết định làm nên một Vũ Bằng nhà văn, nhà báo, là nguồn cảm hứng văn chương của ông.” Link mua sách Shopee Tiki Lazada Fahasa Nếu bạn thấy bài viết này hay, xin ủng hộ team bằng cách dành thêm một giây để click vào quảng cáo. Chỉ 1s thôi, nhưng là cách tuyệt vời để duy trì blog mãi mãi
Giới thiệu sách Thương Nhớ Mười HaiTrong Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng viết về “mười hai cuộc đổi thay tiết trời, mười hai sự rung động uyển chuyển của năm tháng, của chim muông, của sắc đẹp, của hoa lá, của thương yêu, tình tứ” Tự ngôn. Không chỉ đầy ắp những cảnh, những tình đắm đuối thiết tha, không chỉ duyên dáng và ý nhị kể biết bao câu chuyện về ẩm thực, thú vui, phong tục của miền Bắc, tùy bút này còn là một điển hình cho phong cách Vũ Bằng, đặc biệt với việc sử dụng câu từ tiếng Việt trong sáng, uyển chuyển, đầy nhạc tính. Một tùy bút đẹp như mơ. Mà đúng là giấc mơ. Vũ Bằng viết Thương nhớ mười hai hơn một thập kỷ, từ tháng Giêng năm 1960 đến cuối năm 1971, trong căn nhà nhỏ ở Sài Gòn. Từ ngày rời Hà Nội năm 1954, ông chưa từng quay lại. Nửa đời xa quê hương, xa gia đình, xa người vợ tào khang, nhà văn viết chỉ dựa vào ký ức và mộng mơ về ngày cũ. Nửa đời người, Vũ Bằng sống trong nỗi sầu tương tư cố lý chưa bao giờ vơi ngớt. Được đánh giá là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất viết về Hà Nội, Thương nhớ mười hai đã từng được nhiều nhà xuất bản ấn hành trong những năm qua. Với mong muốn đưa đến tay bạn đọc một ấn phẩm tinh kỹ, trang nhã, trong bản in này, Đông A sử dụng phần văn bản từ cuốn Thương nhớ mười hai in lần đầu năm 1972 của nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng, được bổ sung minh họa cho cả mười ba chương, gồm mười hai chương về mười hai tháng trong năm và chương cuối - “Tết, hỡi cô mặc cái yếm xanh”. Lấy cảm hứng từ tranh lụa Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, họa sĩ trẻ Duy Hưng học hỏi cách tạo hình, cách sử dụng màu sắc ở tác phẩm của các họa sĩ huyền thoại một thời, đặc biệt là “Tứ kiệt trời Âu” Phổ - Thứ - Lựu - Đàm… Họ là những danh họa cũng từng sống cuộc đời xa quê. Cảm được điểm chung là sự khắc khoải, tiếc nhớ khôn nguôi dưới bề mặt câu chữ của nhà văn Vũ Bằng và tác phẩm của các danh họa, Duy Hưng tận tâm tái dựng trong minh họa Thương nhớ mười hai vẻ đẹp trong trẻo, nên thơ, mơ màng của Hà Nội, của miền Bắc một thời đã xa, và nét thanh nhã, cổ điển trong phong cách của những người nghệ sĩ. Trên từng trang minh họa, với sự hỗ trợ của kỹ thuật hiện đại, họa sĩ cố công trao đến người đọc cả cảm giác bay bổng, bâng khuâng của từng vân lụa trong tranh xưa. Với bấy nhiêu gắng gỏi của người làm sách, mong rằng khi cầm ấn phẩm này trên tay, bạn đọc sẽ có được một đôi giờ đầy cảm xúc. Thương nhớ mười hai nằm trong tủ sách Văn chương và Mỹ thuật của Đông A. Nhận xét về tác phẩm “Dù phải thích ứng với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương ở bên kia giới tuyến’. Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này. Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang...” - Giáo sư Hoàng Như Mai “Viết về Hà Nội, viết về đất nước quê hương, không ai có thể hơn Vũ Bằng. Bởi Vũ Bằng yêu Hà Nội, yêu đất nước quê hương khi mà ông đang sống ở Sài Gòn, cách Hà Nội chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi ngàn trùng. Nỗi nhớ niềm yêu ấy là tuyệt vọng! Hơn thế nữa, bà Nguyễn Thị Quỳ, vợ hiền của ông, người đã góp phần quyết định làm nên một Vũ Bằng nhà văn, nhà báo, là nguồn cảm hứng văn chương của ông…” - Nhà văn Triệu Xuân “Văn hồi ký của ông là loại văn trữ tình, giàu chất thơ, hướng vào biểu hiện nội tâm, hướng về phong cảnh thiên nhiên bốn mùa xứ sở. Các câu văn tràn đầy cảm xúc, cảm giác tinh tế.” - Trích Từ điển văn học Bộ mớiThông tin tác giả Vũ BằngVũ BằngSinh 1913 - 1984 là nhà văn, nhà báo Việt Nam nổi tiếng của thế kỷ XX. Ông tên thật là Vũ Đăng Bằng, quê gốc ở Hải Dương, nhưng sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Ông theo học trường Trung học Albert Sarraut nay là trường THPT Trần Phú - Hoàn Kiếm và lấy bằng Tú tài Pháp. Năm 16 tuổi, Vũ Bằng có truyện đăng báo và bắt đầu theo đuổi nghề viết lách với niềm say mê mãnh liệt. Một năm sau, ông xuất bản tác phẩm đầu tay Lọ Văn theo phong cách trào phúng. Thập niên 1930 và 1940, ông trở thành chủ bút tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy và thư ký tòa soạn tờ Trung Bắc Chủ Nhật. Từ cuối năm 1948, ông tham gia hoạt động trong mạng lưới tình báo cách mạng tại Hà Nội. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông vào Sài Gòn, tiếp tục niềm đam mê viết lách trong lĩnh vực văn chương, báo chí và dịch thuật cho đến khi qua đời vào năm 1984. Sinh thời, Vũ Bằng để lại nhiều tác phẩm giá trị như tiểu thuyết Bóng ma nhà mệ Hoát, hồi ký Bốn mươi năm nói láo và các tập tùy bút Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ mười hai. Năm 2007, nhà văn Vũ Bằng được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ Thương Nhớ Mười Hai của tác giả Vũ Bằng, có bán tại Sách Khai Trí với ưu đãi Bao sách miễn phí
Thương nhớ mười hai là một tác phẩm tiêu biểu đặc trưng cho phong cách hành văn của nhà văn Vũ Bằng. Được viết vào năm 1960, quyển sách tính cho đến nay đã trải qua hơn nửa thế kỉ nhưng vẫn giữ được vẹn nguyên nét đẹp cùng sức hút thuở ban sơ. Dòng hồi ức được Vũ Bằng tái hiện trong tác phẩm nổi bật Thương nhớ mười hai Thương nhớ mười hai được viết dưới dạng một quyển hồi ký. Quyển sách không kể về bất kỳ một sự việc cụ thể nào nên không có cốt truyện, nội dung chỉ giản đơn là những tản văn bộc lộ niềm thương nhớ của tác giả, những tình cảm chẳng thể nói thành lời của người con xa xứ dành cho quê hương. Vũ Bằng người nghệ sĩ tài hoa được mệnh danh Người trở về từ cõi mộng mơ Vũ Bằng sinh vào tháng 6 năm 1913 tại Hà Nội trong một gia đình Nho học. Dù cha mất sớm nhưng từ nhỏ dưới sự chở che của mẹ, ông không phải trải qua hoàn cảnh thiếu thốn. Ông say mê viết văn từ bé và năm 16 tuổi truyện của ông đã được đăng báo. “Vũ Bằng là một hiện tượng. Trong suốt dòng sông của cuộc đời có mặt, Vũ Bằng đã đánh đổi tất cả chỉ để xin lấy về phần mình hơi thở của nghệ thuật. Vũ Bằng thích sống một đời sống nhiều đam mê, dù là tội lỗi, hơn đạo đức. Theo anh, đã sống phải nếm đủ mùi đời mới thực là sống, còn bôn ba theo đuổi danh lợi rồi chết im lìm thì chỉ là sống một cách què cụt, thiếu sót…” Ông từng từ bỏ con đường du học đất Pháp để lao vào sự nghiệp sáng tác văn chương. Có thể thấy, Vũ Bằng theo đuổi nghề viết không phải vì mưu sinh mà vì niềm đam mê thôi thúc. Ông từng bị chệch hướng khi có khoảng thời gian sa vào nghiện ngập nhưng may mắn nhờ có vợ luôn cạnh bên cổ vũ, giúp đỡ nên ông vượt qua được giai đoạn khó khăn. Chân dung nhà văn Vũ Bằng Về sau ông tham gia hoạt động trong mạng lưới tình báo cách mạng. Năm 1954 ông được lệnh phân công của tổ chức nên phải vào miền Nam công tác, Vũ Bằng rời đi để lại vợ và con ở quê nhà. Mười ba năm sau, vợ ông qua đời. Chuyến công tác ở Nam Bộ đã đem lại nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho Vũ Bằng. Một số tác phẩm gây tiếng vang lớn mà ông sáng tác chính là vào khoảng thời gian vàng son này. Thương nhớ mười hai cũng là một trong số đó. Thương nhớ mười hai và tình yêu da diết mà Vũ Bằng dành cho mảnh đất kinh kỳ mộng mơ Người ta thường bảo trên thế gian không có nỗi buồn nào hoang hải, mất mát tựa như nỗi buồn của một con người phải xa rời quê hương; không có nỗi nhớ nào bâng khuâng, tha thiết như nỗi nhớ của một kẻ sống nơi đất khách quê người hướng về mảnh đất quen thuộc. “Lòng người xa nhà y như thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết. Trông bề ngoài thì không có gì khác lạ, nhưng cầm một cánh hoa khẽ đạp vào thử mà xem tiếng gỗ kêu nghe mệt mỏi, u buồn, mà nếu gõ mạnh thêm chút nữa, ta sẽ thấy gỗ vỡ tan, để lộ ra tảng mục lỗ chỗ như tổ ong, tiết ra một thứ bụi vàng hanh hao, nhạt nhẽo. Con tim của người khách tương tư cố lí cũng đau ốm y như là gỗ mục.” Vũ Bằng là một nhà văn nhưng suy cho cùng cũng chỉ là một người bình thường. Từ khi vào Nam công tác không một phút giây nào ông thôi nhớ về Hà Nội. Ông nhìn cảnh sắc Sài Thành mà lại đâm ra thêm yêu, thêm thương và nhớ về vẻ đẹp rất riêng của quê hương mình. Thương nhớ mười hai và nỗi nhớ mong tha thiết mảnh đất Hà Thành của Vũ Bằng Quyển sách Thương nhớ mười hai được nhà văn chắp bút năm 1960 nhưng đến tận mười một năm sau mới hoàn thành. Từ “mười hai” trong tựa sách Thương nhớ mười hai thực ra là mười hai tháng trong một năm. Điểm nổi bật của tác phẩm chính là những cảnh vật, món ăn, tinh thần con người suốt mười hai tháng. Tháng nào cũng đáng yêu đáng nhớ trong mắt tác giả, tháng nào cũng có cùng một xúc cảm hoài niệm về miền Bắc Việt. Cảnh sắc đẹp đến não nùng và con người thân thương của mảnh đất Hà Thành Hà Nội hiện lên trong nỗi nhớ của Vũ Bằng là một chốn cổ kính vừa lãng mạn lại vừa nên thơ. Đó là xứ sở vang vọng những câu hát quan họ vùng kinh Bắc, thơm hương trầm tháng Giêng lại có cái rét ngọt đầu mùa, không khí thoang thoảng mùi phở. Một ấn bản khác của tác phẩm Thương nhớ mười hai Những ngày tháng Năm bầu trời mát mẻ “trong vắt như lọc qua một tấm vải màu xanh” sang những ngày tháng Tám trời buồn se sắt. Tháng Mười gió bấc mưa phùn mà chỉ khi ở Hà Nội trong khoảng thời gian ấy người ta mới cảm nhận được hết vẻ đẹp cổ kính do mảnh đất này mang lại. Những nét đặc trưng của mảnh đất kinh kỳ quanh năm đều có, đều hấp dẫn. Hà Thành mười hai mùa hoa dưới lăng kính của nhà văn không khỏi khiến người đọc ngẩn ngơ, say mê rồi chìm đắm trong cảnh sắc đẹp đến thẫn thờ. Những đặc trưng của xứ sở kinh kì được miêu tả chân thực dưới ngòi bút của Vũ Bằng Với phong cách hành văn nhẹ nhàng và từ tốn vô cùng riêng biệt, mỗi câu chữ mà Vũ Bằng đưa vào trang sách đều thể hiện một tâm hồn cực kì tinh tế của ông. Nhà văn rất trân quý và nâng niu cuộc sống thường nhật êm ả tại quê hương mình. Bởi nếu không thì làm sao có thể đưa vào con chữ từng chi tiết nhỏ nhặt, quen thuộc và bình dị đến thế? Thú vui ẩm thực Bắc Việt trong Thương nhớ mười hai Thêm nữa, nhắc đến Bắc Việt thì khó lòng mà không nhắc đến vô vàn những thứ quà ngon, những món ăn tuyệt vời đáng kể đến như phở, bún thang, bún chả rồi còn cả bánh chè lam, bánh khúc. Thế nhưng món ăn dẫu ngon đến mức nào cũng sẽ có thời điểm khiến người ta thấy chán ngấy. Song, mười hai món ăn trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng bày lên bàn lại vừa vặn đẹp tuyệt vời. Những thức quà ngon đối với ông đi qua năm này tháng nọ lại gần gũi, gắn liền với người bản xứ và thưởng thức mãi cũng không chán. Từ đơn giản, bình dân như mấy quả bàng quế, bàng đực tháng Ba đến phức tạp, kì công như những vò rượu nếp thơm ngon của những bà nội trợ. Từ vải Cầu Họ, nhãn Hưng Yên đến mận Thất Khê, na Phủ Lý. Tất cả những thức quà ấy đều là đặc sản ông trời ban tặng cho Hà Nội. Vũ Bằng và những dòng văn về những thức quà ngon của Hà Nội Có nhiều đoạn văn khi đọc đến khiến con người ta cảm thấy quá đỗi thân thuộc, từng mảnh kí ức tuổi thơ cứ thế mà ùa về như dòng suối nhỏ ngọt lành, ấm áp. Làm cho trái tim đầy rẫy những vết nứt chằng chịt bởi thực tại bỗng được dòng suối nhỏ ấy lấp đầy, xoa dịu. Thấp thoáng một tình yêu sâu sắc dành cho người vợ nhỏ đảm đang, tần tảo và hy sinh Và trên cả những phong cảnh đẹp đẽ hay nền ẩm thực phong phú thì mục đích lớn nhất cuối cùng của Vũ Bằng lại chính là phác họa nên hình ảnh người vợ yêu quý của mình. Người vợ đầu của ông chính là người đã luôn bầu bạn, ủng hộ và cùng ông vượt qua gian đoạn khó khăn nhất cuộc đời. Bà lúc nào cũng tất bật, lo toan để làm sao cho vẹn toàn chu tất mọi chuyện trong gia đình. Quyển hồi ký Thương nhớ mười hai Bà đã trở thành nguồn cảm hứng rất lớn cho Vũ Bằng. Chính nhà văn cũng từng bảo nhờ có vợ nên ông mới viết được những tác phẩm tuyệt vời đến bất hủ. Khi phải xa cách người bạn gối chăn đến ngàn dặm, ông bộc lộ nỗi nhớ mãnh liệt không hề che giấu. Nhà văn luôn dành cho người bạn tâm giao của mình sự trân trọng lớn nhất của bản thân ông. “Nhớ lại có những đêm tháng mười ở Hà Nội, vợ chồng còn sống cạnh nhau, cứ vào khoảng này thì mặc áo ấm dắt nhau đi trên đường khuya tìm cao lâu quen ăn với nhau một bát tam xà đại hội có lá chanh và miến rán giòn tan, người chồng lạc phách đêm nay nhớ vợ cũng đóng cửa lại đi tìm một nhà hàng nào bán thịt rắn để nhấm nháp một mình và tưởng tượng như hãy còn ngồi ăn với người vợ thương yêu ngày trước, nhưng sao đi tìm mãi, đi tìm hoài không thấy. Người chồng dừng lại, sợ chính bóng mình. Nước mắt anh lại ứa ra, và chảy dài theo lối đi lấp loáng một bông sao rụng.” Xuyên suốt quá trình dài hoàn thành Thương nhớ mười hai, mười ba năm sau khi ông vào Nam, vợ ông ở Hà Nội đã qua đời. Chỉ đọc một vài dòng mà ông viết về bà cũng rõ ràng thấy được sự đau đớn, mất mát cùng nỗi nhớ bất tận của ông dành cho người bạn đời. Thương nhớ mười hai là niềm an ủi, là nỗi lòng của những con người phải rời xa quê hương Thương nhớ mười hai còn được xem là tiếng lòng thổn thức của những ai xa xứ nhớ về mảnh đất Hà Thành thơ mộng. Là bức thư gửi cho những người ở đất khách quê người để bớt đi phần nào nỗi nhớ thương quê hương xứ sở. Thương nhớ mười hai tựa tiếng lòng thổn thức của những người con xa quê Đọc tác phẩm cứ như nếm vị ngọt dịu và trong lành của trái cây mùa hạ. Quyển sách tuy là nhớ về Hà Nội nhưng cũng đồng thời là nhớ về thời thanh xuân đã lướt qua không trở lại của tác giả. Quả thật không ngoa khi ví Vũ Bằng là “Người trở về từ cõi mộng mơ”. Ông đặc tả một Hà Nội bình dị nhưng lại đẹp đến nao lòng. Nỗi thương nhớ cùng tình yêu to lớn đã biến Thương nhớ mười hai trở thành một tác phẩm quá đỗi đặc biệt. Thương nhớ mười hai tựa như một tách trà ấm nóng, hương thơm thoang thoảng lại khiến con người ta đắm say. Quyển sách sẽ vô cùng thích hợp cho bạn vào một buổi chiều trong xanh, mây lững lờ, gió nhè nhẹ. Nó sẽ đem bạn ngược dòng thời gian tìm về với hình ảnh một Hà Nội ở những ngày xưa cũ, ngỡ như xa lạ nhưng lại thân thương đến vô cùng. Thanh Thảo
Vũ Bằng 3 tháng 6, 1913 – 7 tháng 4, 1984, tên thật là Vũ Đăng Bằng, là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam. Ông là người có sở trường về viết truyện ngắn, tùy bút, bút ký… Ngoài bút hiệu Vũ Bằng, ông còn ký với các bút hiệu khác Tiêu Liêu, Vịt Con, Thiên Thư, Vạn Lý Trình, Lê Tâm, Hoàng Thị Trâm… Thương nhớ Mười Hai – Vũ Bằng Trong số trước tác của Vũ Bằng, Thương nhớ Mười Hai là tác phẩm tiêu biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông. Nội dung sách ông viết về hình ảnh người vợ tên Quỳ bên kia vỹ tuyến. Ông khởi sự viết từ tháng Giêng 1960, ròng rã mười một năm mới hoàn thành tác phẩm dày khoảng 250 trang vào năm 1971. GS Hoàng Như Mai đánh giá Dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương ở bên kia “giới tuyến”. Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này. Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang… Nhà văn Triệu Xuân ca ngợi Có người bạn thân, trong lúc đàm đạo văn chương, hỏi tôi “Sắp sang thế kỷ 21 rồi, nếu chỉ được phép mang mười cuốn sách văn học vào thế kỷ mới, ông mang những cuốn nào?”. Tôi trả lời ngay “Một trong những cuốn tôi mang theo là Thương nhớ Mười Hai của Vũ Bằng!… Bởi viết về Hà Nội, viết về đất nước quê hương, không ai có thể hơn Vũ Bằng. Bởi Vũ Bằng yêu Hà Nội, yêu đất nước quê hương khi mà ông đang sống ở Sài Gòn, cách Hà Nội chưa đầy hai giờ máy bay mà vời vợi ngàn trùng. Nỗi nhớ niềm yêu ấy là tuyệt vọng! Hơn thế nữa, bà Nguyễn Thị Quỳ, vợ hiền của ông, người đã góp phần quyết định làm nên một Vũ Bằng nhà văn, nhà báo, là nguồn cảm hứng văn chương của ông… Và trong Từ điển văn học bộ mới Văn hồi ký của ông là loại văn trữ tình, giàu chất thơ, hướng vào biểu hiện nội tâm, hướng về phong cảnh thiên nhiên bốn mùa xứ sở. Các câu văn tràn đầy cảm xúc, cảm giác tinh tế. Cùng với Thương nhớ Mười Hai, Miếng ngon Hà Nội…đã góp phần định hình kiểu hồi ký trữ tình độc đáo. Có thể xem đây là một đóng góp quan trọng của Vũ Bằng vào thể ký nói riêng và nền văn học hiện đại nói chung. Tự ngôn Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt Tháng Hai, tương tư hoa đào Tháng Ba, rét Nàng Bân Tháng Tư, mơ đi tắm suối Mường Tháng Năm, nhớ nhót, mận, rượu nếp và lá móng Tháng Sáu, thèm nhãn Hưng Yên Tháng Bảy, ngày rằm xá tội vong nhân Tháng Tám, ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu Tháng Chín, gạo mới chim ngói Tháng Mười, nhớ gió bấc mưa phùn Tháng Một, thương về những ngày nhể bọng con rận rồng Tháng Chạp, nhớ ơi chợ Tết Tết, hỡi cô mặc cái yếm xanh…
thương nhớ mười hai của vũ bằng